Điều trị Đa u tủy xương và hội chứng rồi loạn sinh tủy

Đây là bệnh ác tính tế bào B chiếm khoảng 10% các bệnh UNG THƯ huyết học. Điều trị đa u tủy xương có những bước tiến bộ nhanh. Trước khi sử dụng thalidomid và dexamethason, điều trị chuẩn với phác đồ VAD hoặc melphalan kết hợp prednison cho thời gian sống trung bình từ 30 đến 36 tháng. Điều trị hoá chất liều cao kết hợp ghép tế bào gốc tự thân cải thiện thời gian sống không bệnh và toàn bộ so với điều trị chuẩn. Nghiên cứu IFM94 là thử nghiệm ngẫu nhiên so sánh ghép 1 lần so với ghép 2 lần tế bào gốc tự thân, nhóm 1 lần sử dụng melphalan kết hợp xạ trị toàn thân, nhóm 2 lần sử dụng melphalan ở lần 1 và melphalan kết hợp xạ trị toàn thân ở lần 2. Tỷ lệ sống không bệnh 6 năm là 19% ở nhóm ghép 1 lần và 28% ở nhóm ghép 2 lần. Tỷ lệ sống toàn bộ 6 năm tương ứng là 26% và 46%. Về sau, người ta thấy thêm xạ trị toàn thân không tăng thêm tác dụng chống u mà chỉ thêm độc tính. Sử dụng interferon sau ghép tự thân không làm tăng thời gian sống không tiến triển và toàn bộ.

Ghép tế bào gốc dị gen có thể chữa khỏi ở 20-25% bệnh nhân nhưng tỷ lệ tử vong liên quan ghép vô cùng cao, lên tới 40-50% ở hầu hết các báo cáo. Vì vậy, ghép dị gen không có lợi ích hơn so với ghép tự thân. Nhóm nghiên cứu của Pháp và Tây Ban Nha sử dụng phác đồ giảm liều và ghép dị gen như biện pháp củng cố sau ghép tự thân cho thấy tỷ lệ đáp ứng cao hơn so với ghép tự thân lần 2 nhưng tỷ lệ tử vong liên quan ghép cao hơn, dẫn đến tỷ lệ sống tương đương ở hai nhóm.

Tham khảo Thuốc Lenalid điều trị đa u tủy xương

Tham khảo thuốc Tagrix điều trị ung thư phổi

Hội chứng loạn sản tủy

Hiện không có phương pháp điều trị chuẩn có hiệu quả đối với rối loạn này. Ghép tế bào gốc dị gen có thể cho thời gian sống không bệnh kéo dài với khoảng 40% ở người dưới 40 tuổi nhưng chỉ 15-20% ở người trên 40 tuổi. Phân tích cho thấy tỷ lệ sống không bệnh 3 năm là 28% ở các trường hợp được ghép tế bào gốc từ người cho cùng huyết thống, 25% từ người cho ngoài huyết thống và 33% ở người ghép tự thân. Tuổi và giai đoạn bệnh là các yếu tố tiên lượng độc lập đối với tỷ lệ sống không bệnh, tỷ lệ tử vong liên quan ghép và thời gian sống toàn bộ. Bệnh nhân được ghép ở giai đoạn sớm có nguy cơ tái phát thấp hơn đáng kể so với giai đoạn muộn hơn. Đối với bệnh nhân dưới 55 tuổi bị hội chứng loạn sản tủy, ghép tế bào gốc tạo máu dị gen cho kết quả cao nhất. Các nghiên cứu sử dụng phác đồ giảm liều rất đáng khích lệ nhưng cần thời gian theo dõi lâu dài.

Các bệnh khác

Bệnh xơ tủy có tiên lượng xấu nhất trong các bệnh tăng sinh tủy mạn với các biện pháp điều trị thông thường ít hiệu quả. Thời gian sống trung bình khoảng 3-5 năm. Nghiên cứu về ghép tế bào gốc dị gen ở bệnh nhân dưới 55 tuổi cho thấy 48% người được ghép có thời gian sống không bệnh đạt 5 năm. Tuy vậy, tỷ lệ tử vong liên quan ghép trong 1 năm là 27% cho dù bệnh nhân khá trẻ trong nghiên cứu này. Phân tích tỷ lệ sống toàn bộ 5 năm theo nhóm tuổi, người ta thấy chỉ đạt 14% ở nhóm trên 45 tuổi so với 62% ở nhóm trẻ hơn.

Thiếu máu bất sản là bệnh mà ghép tế bào gốc có hiệu quả. Thiếu máu bất sản có tiên lượng chung xấu bởi nguy cơ nhiễm trùng và chảy máu. Tỷ lệ sống 1 năm của thiếu máu bất sản không quá 20%. Ghép tế bào gốc dị gen cho tỷ lệ sống lâu dài 50% đến 90%. Phác đồ chuẩn bị cần ức chế miễn dịch bằng cyclophosphamid, globulin kháng tế bào tuyến ức, xạ trị toàn thân. Các bệnh tự miễn như lupus ban đỏ hệ thống, xơ cứng bì, đa xơ, viêm khớp dạng thấp cũng đang được nghiên cứu sử dụng ghép tế bào gốc tự thân.

Tài liệu tham khảo

1. Attal M, Harousseau J-L, Facon T, et al. Single versus double aUng thưologous stem cell transplantation for multiple myeloma. N Engl J Med 2003;349:2495-2502.

2. Barker JN, Wesdorf DJ, DeFor TE, et al. Rapid and complete donor chimerism in adult recipients of unrelated donor umbilical cord blood transplantation after reduced intensity conditioning. Blood 2003; 102:1915-1919.

3. Freedman AS, Gribben JG, Neuberg D, et al. High dose therapy and aUng thưologous bone marrow transplantation in patients with folicular lymphoma during first remission. Blood 1997:89:4531-4536.

4. Giralt S, Estey E, Albitar M, et al. Engraftment of allogeneic hematopoietic progenitor cells with purine analog-containing chemotherapy: harnessing graft-versus-leukemia withoUng thư myeloablative therapy. Blood 1997;89:4531-4536.

5. Khouri IF, Saliba RM, Giralt SA, et al. Nonablative allogeneic hematopoietic transplantation as adoptive bimmunotherapy for indolent lymphoma: low incidence of toxicity, acUng thưe graft versus host disease, and treatment related mortality. Blood 2001; 98:3595-3599.

6. Korbling M, Anderlini P. Peripheral blood stem cell versus bone marrow allotransplatation: does the source of hematopoetic stem cells matter? Blood 2001;98:2900-2908.

7. de Lima M, Anagnoustopoulos A, Munsell M, et al. Nonablative versus reduced-intensity conditioning regimens in the treatment of acUng thưe myeloid leukemia and high risk myelodysplastic syndrome: dose is relevant for long term disease control after allogeneic hematopoetic stem cell transplantation. Blood 2004;104:865-872.

 

Tác giả bài viết: Dược Sĩ Đỗ Thế Nghĩa, Đại Học Dược Hà Nội, CEO: Mua Thuốc 24h

Tham khảo thêm các bài viết khác:

 

Với những công thức dưới đây – trị mụn li ti chưa bao giờ đơn giản như thế

Âm đạo khô hạn có thể gây ung thư buồng trứng?

 

 

 

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *